|
SNL Manager
Tham gia ngày: Jun 2009
Bài gửi: 571
Thanks: 0
Thanked 1 Time in 1 Post
|
Các vấn đề khác
Phụ nữ mang thai có thể gặp những vấn đề khác nhau. Một trong những vấn đề phổ biến nhất mà họ thường gặp là buồn nôn vào buổi sáng, đây là tình trạng mà người phụ nữ cảm thấy buồn nôn, mệt mỏi và chóng mặt vào buổi sáng sớm. Hầu hết các chuyên gia đều cho rằng hiện tượng buồn nôn vào buổi sáng, xuất hiện vào thời kỳ đầu khi mang thai và kết thúc vào quý thứ hai của thai kỳ,có liên quan đến sự thay đổi hooc môn. Ăn bánh quy khi tỉnh giấc và ăn những bữa ăn nhỏ rải rác khắp ngày nhiều khi rất có tác dụng. Phụ nữ mang thai có thể bị trĩ, hay tĩnh mạch hậu môn bị ép. Trĩ thường đi kèm với việc bị sưng, ngứa, hay chảy máu. Thực hiện một phẫu thuật trực tràng nhỏ, bôi kem và ngâm đít là những cách chữa trị tốt nhất. Chứng sạm da là những vết tối xuất hiện xuất hiện trên da khi mang thai (nó thường xuất hiện ở mặt, quầng vú, và bụng), nguyên nhân có thể là do những thay đổi hooc môn. Một thời gian ngắn sau khi sinh, chúng sẽ mất đi. Những vạch dài trên da sẽ không hoàn toàn biến mất, nhưng theo thời gian chúng sẽ mờ đi.
Xảy thai và thai chết khi sinh
Xảy thai (miscarriage) là sự xảy một cách tự phát của thai nhi không thể sống được (thai không có khả năng sống ở ngoài tử cung) ít hơn 20 tuần tuổi. Thai chết khi sinh (stillbirth) là việc sinh ra một bào thai đã chết sau 20 tuần tuổi. Vì người phụ nữ có thể nhầm xảy thai với có kinh trước khi cô biết là mình có thai nên việc xác định số ca xảy thai hàng năm là một việc làm khó khăn. Tuy nhiên, theo ước tính có khoảng 20% phụ nữ mang thai ở Mỹ bị xảy thai, đa số những trường hợp xảy thai này xuất hiện ở quý đầu của thai kỳ. Những dị thường ở nhiễm sắc thể và mang thai khi tuổi đã cao (trên 35 tuổi) là những nguyên nhân chính dẫn đến việc xảy thai.
Đẻ non
Đẻ non (premature birth) khác xảy thai ở chỗ, bào thai sống khi sinh (có khả năng sống ở ngoài tử cung). Trẻ đẻ non chiếm khoảng từ 7 đến 10% trong số những trẻ em được sinh ra ở Mỹ, trẻ đẻ non nặng dưới 2,5kg và được sinh ra khi thai ít hơn 36 tuần tuổi. Mặc dù những nguyên nhân gây ra việc đẻ non vẫn chưa được biết, nhưng đẻ non có thể liên quan đến chế độ ăn uống nghèo nàn, sử dụng rượu và thuốc khi mang thai, hút thuốc lá, thiếu sự chăm sóc trước khi sinh, hay có tiền sử xảy thai trước đó. Như đã biết, trẻ sơ sinh càng nhẹ cân càng ít có cơ hội sống. Trẻ đẻ non thường gặp các vấn đề về xuất huyết, gặp khó khăn khi thở, bú sữa, và tiêu hóa. Những vấn đề này thường mất đi khi đứa trẻ tăng cân.
Kiểm tra để phát hiện những bất thường khi mang thai
Một số phương pháp chuẩn đoán có thể kiểm tra xem bào thai có khả năng bị các dị tật hay khiếm khuyết nào không. Ba trong số những phương pháp phổ biến nhất được sử dụng là chuẩn đoán bằng siêu âm (ultrasonography), chọc ối (amniocentesis), và lấy mẫu lông nhung màng đệm (chorionic villi sampling). Các chuyên gia đã đưa ra các giai đoạn sử dụng phương pháp chuẩn đoán, đặc biệt là đối với những sản phụ có nguy cơ thấp.
Chuẩn đoán bằng siêu âm (ultrasound examination, hay sonogram), liên quan đến việc chụp hình chuyển động của bào thai. Các sóng âm tần số cao dội vào bào thai và sau đó cho ta các hình ảnh có thể nhìn thấy được. Chuẩn đoán bằng siêu âm đặc biệt hữu dụng trong việc chuẩn đoán các rối loạn trước khi sinh, theo dõi nhịp tim của thai nhi, và biết trước được giới tính của thai. Hiện tại, không có cơ sở đáng tin cậy nào chứng minh rằng sóng siêu âm gây hại đến thai nhi hay người mẹ cả.
Các kiểm tra bằng việc chọc ối (Amniocentesis) giúp biết xem có sự nhiễm trùng bào thai hay các dị thường về nhiễm sắc thể hay không. Bác sĩ xác định vị trí bào thai bằng phương pháp siêu âm để tránh đâm vào bào thai, rồi sau đó dùng một cái kim rỗng để rút dịch ở túi ối. Phương pháp chọc ối này thường được thực hiện khi thai được khoảng 15 tuần tuổi. Phương pháp này cho phép cha mẹ có đủ thời gian để quyết định xem có giữ thai lại cho đến khi sinh nếu như thai có những khuyết tật nặng hay không. Kết quả kiểm tra bằng phương pháp này thường có trong vòng từ 3 đến 4 tuần. Nguy cơ gây xảy thai do chọc ối ít hơn 1%.
Giống với phương pháp chọc ối, phương pháp lấy mẫu lông nhung màng đệm (Chorionic villi sampling) rất có hiệu quả trong việc phát hiện những dị thường của bào thai, nó được thực hiện sớm hơn so với phương pháp chọc ối, từ khi thai được 9 đến 14 tuần tuổi. Bác sĩ đưa một ống thông vào trong tử cung thông qua cổ tử cung. Ở trong bao ngoài của nhau thai có những lông nhung nhỏ. Bác sĩ hút một ít dịch từ những lông nhung đó nhờ ống thông. Kết quả kiểm tra của phương pháp này thường có trong vòng vài ngày. Nguy cơ xảy thai do thực hiện phương pháp này là khoảng 1%.
VÔ SINH
Không phải cặp vợ chồng nào muốn có con cũng có khả năng thụ thai. Hai vợ chồng thường được gọi là vô sinh nếu như họ không thể thụ thai được sau khi đã cố gắng trong 12 tháng hoặc hơn. Khoảng 20% các cặp vợ chồng ở Mỹ bị vô sinh.
Vô sinh có thể là do người chồng, người vợ, hoặc là do cả hai. Vô sinh nam có thể là do có quá ít tinh trùng mạnh ở tinh hoàn do tình trạng nóng nực ở vùng bìu dái hay bệnh lây nhiễm sau dậy thì, khả năng di chuyển của tinh trùng kém do sự bất thường của tinh dịch, không thể xuất tinh vào trong âm đạo do rối loạn tình dục hoặc tắc ống dẫn tinh, và/hoặc sức khỏe hay chế độ ăn uống kém. Vô sinh nữ có thể là do sự rụng trứng không đều, cơ quan sinh sản bị hỏng, cơ quan sinh sản được hình thành không đúng cách, tắc ống dẫn trứng (vòi fallope), nước nhầy ở cổ tử cung có nồng độ pH không thích hợp khiến cho tinh trùng không thể đến được tử cung, sự phát triển của mô tử cung ở khoang chậu, quá béo hoặc quá gầy, và/hoặc sức khỏe hay chế độ ăn uống kém. Vô sinh cũng có thể do cả hai người, chẳng hạn như do khả năng di chuyển của tinh trùng kém cộng với sự rụng trứng không đều ở người phụ nữ.
Nhiều trường hợp vô sinh có thể chữa trị được. Thuốc chữa vô sinh (Fertility drugs) có tác dụng nếu như nguyên nhân gây vô sinh là do người phụ nữ không có khả năng rụng trứng. Thụ tinh nhân tạo (Artificial insemination) là việc chữa vô sinh bằng cách lấy và đưa tinh trùng vào trong âm đạo sử dụng một loại ống. Phương pháp này đặc biệt hiệu quả nếu như số lượng tinh trùng của nam giới ít hơn mức bình thường. Thụ tinh trong ống nghiệm (In vitro fertilization hay "test-tube baby") là việc thụ tinh trứng của người phụ nữ bên ngoài cơ thể và sau đó cấy vào trong tử cung. Phương pháp này hữu ích nếu như người phụ nữ bị tắc ống dẫn trứng. Chuyển giao tử vào trong vòi fallope(Gamete intrafallopian transfer) (GIFT) là việc lấy trứng từ buồng trứng của người phụ nữ, kết hợp trứng với tinh trùng của nam giới rồi sau đó đưa vào trong vòi fallope. Mục đích của việc làm này là để sự thụ tinh được thực hiện trong cơ thể của người phụ nữ chứ không phải ở ngoài.
Một số người hay một số cặp vợ chồng quyết định rằng cách tốt nhất để giải quyết vấn đề vô sinh là nhận con nuôi. Những người khác lựa chọn việc sử dụng dịch vụ người mẹ thay thế, những người này ký hợp đồng với hai vợ chồng, nhận mang thai và sinh đẻ, và sau đó đứa con sẽ được hai vợ chồng nhận nuôi, dịch vụ này thường mất phí ít nhất là 10.000 đô la cộng với các chi phí y tế khác. Ở dịch vụ này, bác sĩ thực hiện thụ tinh nhân tạo cho người mẹ thay thế với tinh trùng của người nam giới hoặc cấy trứng đã được thụ tinh trong ống nghiệm vào trong tử cung của cô ta. Cách nào đi nữa thì việc sử dụng người mẹ thay thế thực sự là vấn đề gây tranh cãi, nó tạo nên các vấn đề về mặt đạo lý, luật pháp, và đạo đức.
Tương tự với người mẹ thay thế là người mang cấy. Sự lựa chọn này liên quan đến việc cấy trứng đã được thụ tinh vào trong tử cung của một người họ hàng. Vì là người họ hàng mang thai cho đến tháng, nên hai vợ chồng có thể tránh được những chi phí và rắc rối liên quan đến việc thuê người mẹ thay thế. Ngày nay, các bác sĩ đã thành công trong việc cấy phôi vào phụ nữ ở độ tuổi 50 tiếp sau sử dụng liệu pháp hooc môn để đảo ngược các tác động của sự mãn kinh.
Suy Nghĩ Cá Nhân
Mong muốn có con nhưng lại không có khả năng làm được điều đó là một trải nghiệm gây đau đớn. Bạn sẽ phản ứng như thế nào nếu bản thân hay người bạn đời của bạn bị vô sinh. Bạn sẽ sẵn sàng thử điều trị bằng phương pháp nào? Những phương pháp nào bạn sẽ không thử? Tại sao? Nếu bạn hay người bạn đời của bạn không thể thụ thai, bạn có xem xét đến việc nhận con nuôi hay không? Tại sao có? Tại sao không? Bạn có xem xét đến khả năng thuê người mẹ thay thế hay không? Nếu bạn có con nhờ biện pháp "nhân tạo", liệu sau này bạn có nói cho con bạn biết điều đó không? Tại sao có? Tại sao không?
|